QUY TRÌNH HÔN LỄ CỦA NGƯỜI GIẺ – TRIÊNG
2011-03-25 03:44:18

Trong qui trình hôn lễ của người Giẻ - Triêng, sau khi tổ chức xong các nghi lễ trước hôn nhân , như : Lễ đính hôn (long), lễ hợp cẩn (bla), lễ trình làng (tava), lễ ra mắt họ hàng (talu)... ...Và lễ giã từ nhà rông thì họ tiếp tục chuẩn bị tổ chức một số nghi lễ chính.

QUY TRÌNH HÔN LỄ CỦA NGƯỜI GIẺ – TRIÊNG

Quy trình hôn lễ chính này thường được người Giẻ - Triêng tiến hành trong giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 11 hàng năm vì khi đó mới thu hoạch xong mùa màng (nông nhàn), điều kiện vật chất tốt, có nhiều thời gian rỗi, thời tiết thuận lợi và trời đẹp…. Quy trình hôn lễ này thường được tổ chức trong 3 ngày:

Ngày thứ nhất – Ngày chuyển củi – Ngày hỏi:

Củi cưới có vị trí quan trọng trong chuyện hôn nhân của người Giẻ – Triêng.

Củi cưới là của hồi môn, là lễ vật thiêng liêng do người con gái chuẩn bị trong thời gian chuẩn bị lấy chồng . Kết quả nhiều hay ít, xấu hay đẹp là biểu hiện về sự trưởng thành, khả năng làm chủ gia đình mẫu hệ của người con gái. Vì vậy, khi bước vào quy trình chính của hôn lễ, người con gái xin ý kiến của Già làng, gia đình chuyển đống củi cưới cô đã chuẩn bị sang nhà trai. Vì vậy, người Giẻ - Triêng còn gọi củi cưới là củi bắt chồng , củi cho chồng . Trong ngôn ngữ và thực tế, người Giẻ - Triêng không có ngày “ăn hỏi”, không có từ đám hỏi, họ có ngày chuyển củi sang nhà trai, là ngày cõng củi và họ coi đó là ngày hỏi, đám hỏi. Người cõng củi trong ngày này, ngoài cô dâu (bắt buộc) còn có các cô gái đã có chồng trong làng giúp cô (trừ các cô gái chưa chồng). Việc chuyển củi cưới, dù ít hay nhiều cũng phải chuyển xong trong một ngày, nếu quá nhiều, hoặc khoảng cách giữa hai nhà quá xa thì phải nhờ thêm nhiều người giúp. Chính vì lý do đó, nhiều cuộc chuyển củi cưới có đoàn người cõng củi khá đông, có khi đến trên 20 người. Khi lượng củi chuyển qua nhà trai được khoảng hai phần ba, một số đàn ông nhà gái tới chặt cây, đào lỗ chôn cột, chuẩn bị cho việc xếp củi vào ngày hôm sau.

Ngày thứ hai – Ngày xếp củi – Ngày cưới:

Ngày xếp củi được coi là ngày cưới nên cũng có nghi lễ trong khi xếp củi. Sau khi củi cưới đã được rã ra, sẵn sàng cho việc xếp củi, cô dâu phải lấy những thanh củi đầu tiên, tự tay đưa cho chồng, rồi người chồng mới chuyển chúng cho bố mẹ của mình để họ tự tay xếp lượt củi cưới đầu tiên lên dàn khuôn đã chuẩn bị sẵn (dàn đáy). Sau nghi lễ đó những người thân mới tiếp tục xếp củi cưới thành khối vuông vức. Theo phong tục của người Giẻ – Triêng, sau khi nhà trai nhận củi, đôi trai gái đó coi như đã thành vợ, thành chồng, họ không được quan hệ tình cảm (yêu) với người khác. Trong ngày xếp củi, nhà trai làm cơm đãi những người xếp củi và nhà gái. Hoàn tất việc xếp củi, phần nghi lễ trong quy trình hôn lễ coi như đã hoàn tất, phần còn lại chỉ là việc tổ chức tiệc cưới chiêu đãi làng và người thân.

Ngày thứ ba – Tiếp đãi khách và tiệc cưới:

Một việc rất quan trọng là cuối ngày xếp củi, hai bên gia đình phải (phong tục, bắt buộc) trồng cây nêu để thông báo với mọi người trong làng, khách ở gần xa biết việc tổ chức đãi tiệc và biểu diễn nghệ thuật dân gian trong dịp cưới. Việc làm cây nêu được Già làng hoặc những người thông thạo phong tục hướng dẫn, giúp đỡ. Không khí trong làng vào dịp này rất nhộn nhịp, người lớn thì bàn bạc cách thức tiến hành hôn lễ, chuẩn bị lương thực, thực phẩm để làm tiệc đãi khách. Các nghệ nhân tập lại các tiết mục nghệ thuật dân gian, trai gái thì chuẩn bị trang phục, cồng chiêng, nhạc cụ… và lo các việc khác phục vụ ngày cưới. Trẻ em thì phấn khởi vì được mặc áo đẹp, được xem văn nghệ… và quan trọng hơn là được ăn ngon. Vật chất đãi tiệc trong hôn lễ, quan trọng nhất là rượu cần. Vì vậy, tối thiểu nhà trai cũng như nhà gái phải chuẩn bị từ 20 đến 30 ghè (ché). Số rượu này một phần do gia đình chuẩn bị trước, một phần do người trong dòng tộc, người thân cho. Đối với thực phẩm, bò và heo được mổ thịt ngay trong đêm, một số thịt được nướng sơ rồi sau đó mới mang đi để chế biến thành các món ăn. Số thịt heo, thịt bò còn lại được xẻ thành từng miếng gần bằng nhau, xâu bằng lạt tre để làm quà chia đều cho bà con, họ hàng và cả khách thập phương đến làng vào dịp đám cưới. Việc làm tiệc cưới, không nhất thiết ngày thứ ba cả hai bên đều phải làm, nó tùy thuộc vào khoảng cách giữa hai gia đình gần hay xa, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế mỗi bên chuẩn bị ra sao.

Nếu hai bên cùng đã chuẩn bị tốt và họ cùng làng thì có thể tiến hành tổ chức tiệc cưới trong cùng một ngày. Khi đó, nếu ai có họ với bên nào thì sẽ đến bên đó trước, sau đó họ sẽ tiếp tục đến dự ở nhà bên kia. Đối với cô dâu, chú rể phải đi cùng nhau ở cả đôi bên, bên nào trước đều được để nhận lời chúc mừng hạnh phúc của mọi người. Trường hợp bên nào chưa chuẩn bị xong thì làm sau nhưng không được kéo dài quá thời điểm vợ chồng sinh con đầu lòng. Việc chưa tổ chức xong tiệc cưới thì coi như là vẫn còn nợ làng và nếu kéo dài tới quá khi sinh con đầu lòng thì vô cùng tủi hổ, dù sau này có trả được vẫn bị chê cười, thậm chí còn bị đòi hỏi thêm nhiều thứ khác giống như là bị phạt. Ngày nay, do kinh tế phát triển, tiệc tùng không quá linh đình nên chuyện nợ tiệc cưới gần như không còn nữa vì vậy ngay sau ngày xếp củi thì cả hai bên đều đã chuẩn bị chu đáo và cùng đãi tiệc mọi người. Đặc biệt, khách lạ khi đến làng người Giẻ – Triêng thấy có cây nêu, có đãi tiệc thì có thể vào bên trai hay gái đều được và luôn được đón tiếp chu đáo, không phải kiêng cữ hay phải có quà mừng gì. Không những thế, khi ra về lại còn được chia một phần quà như tất cả người thân trong làng, trong dòng họ. Biểu diễn nghệ thuật là nội dung không thể thiếu trong dịp cưới mà trong đó cồng chiêng có vị trí quan trọng. Khi việc ăn uống tương đối đầy đủ, họ bắt đầu hát, họ hát các bài hát có nội dung chúc mừng gia đình, chúc đôi bạn trẻ mau chóng có con, có cháu….

Cứ thế cuộc vui kéo dài tới chiều tối thì chiêng trống nổi lên, trai gái trong làng thay những bộ váy áo mới, mọi người đều trong trạng thái vui vẻ. Khi men say đã ngấm, họ tiếp tục nhảy múa, ca hát và nếu ai đó say quá thì có thể về hoặc kiếm chỗ nghỉ tạm để khi tỉnh lại tiếp tục ăn uống, hát và nhảy múa. Vào thời điểm biểu diễn nghệ thuật, khi âm vang của cồng chiêng trầm hùng vang vọng khắp núi rừng, thấm sâu vào lòng đất, kết hợp với các điệu xoang của các chàng trai cô gái trong trang phục truyền thống và rượu cần , đã tạo nên một tổ hợp các hoạt động. Khi rượu cần đủ ngấm, bước xoang ngất ngây trong tiếng cồng chiêng thì tâm hồn mỗi người dự cuộc vui ngày cưới càng thêm cởi mở. Con người, thiên nhiên, đất trời càng xích lại gần nhau, gắn bó với nhau và dường như họ muốn cỏ cây, muông thú, đất trời cùng say chung với mình, cùng vui chung với mình.